Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu

biến đổi khí hậu
biến đổi khí hậu

Trong bài viết này, nhanvietluanvan.net xin chia sẻ đến bạn những lý luận chung về biến đổi khí hậu

Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu
Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu

>>> Xem thêm: Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội tự nguyện

1. Khái niệm khí hậu, thời tiết và biến đổi khí hậu

1.1. Khái niệm khí hậu và thời tiết

Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó (tỉnh, quốc gia, châu lục, toàn cầu) trên cơ sở chuỗi số liệu dài ít nhất là 30 năm trở lên.

Thời tiết là trạng thái nhất thời của khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác định bằng tổ hợp hoặc riêng lẻ các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa…

Thời tiết thường thay đổi trong một ngày, từ ngày này qua ngày khác, từ năm này qua năm khác nhưng khí hậu thì ít thay đổi.

1.2. Khái niệm biến đổi khí hậu

Theo công ước chung của LHQ đã đặc biệt nhấn mạnh sự ảnh hưởng của BĐKH đến HST tự nhiên, đến các hoạt động KT – XH, đến sức khỏe và phúc lợi của con người: “BĐKH là những ảnh hưởng có hại của BĐKH, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các HST tự nhiên hoặc đến hoạt động của các hệ thống KT – XH hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”. [13] 

Đối với Hiệp hội Khí tượng Mỹ (American Meteorological Society – AMS) chỉ tập trung đề cập đến nguyên nhân dẫn đến BĐKH: “Bất kỳ sự thay đổi có hệ thống của các nhân tố KH trong một thời gian dài (nhiệt độ, áp suất hoặc gió) qua hàng chục năm hoặc lâu hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên, như các thay đổi trong quá trình phát năng lượng của Mặt trời, hoặc các thay đổi chậm chạp của trục quay Trái đất, hoặc do các quá trình tự nhiên nội tại của hệ thống KH; hoặc do tác động từ các hoạt động của con người”. 

Định nghĩa của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt nam: “BĐKH xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê KH. Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ. Sự thay đổi của KH được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động KH tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được” [3].

GS. TSKH Lê Huy Bá cho rằng: “BĐKH là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu, “khung” thời tiết từ bình thường vốn có lâu đời nay của một vùng cụ thể, sang một trạng thái thời tiết mới, đạt các tiêu chí sinh thái KH một cách khác hẳn, để rồi sau đó dần dần đi vào ổn định mới” [1].

“BĐKH Trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Sự biến đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự BĐKH có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn địa cầu.” (Wikipedia).

2. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu

Theo báo cáo mới nhất của LHQ, nguyên nhân gây ra BĐKH 90% là do con người, 10% là do tự nhiên. Sau cuộc tranh luận kéo dài hơn 30 năm cho đến nay, các nhà khoa học đã nhất trí cho rằng những hoạt động phát triển KT – XH với nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, giao thông, nông – lâm – ngư nghiệp và sinh hoạt của con người đã làm tăng nồng độ các khí gây HƯNK trong khí quyển, làm Trái đất nóng lên, biến đổi hệ thống KH và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu. 

Tỷ lệ các hoạt động của con người trong tổng lượng phát thải KNK (IPCC, 2007): SX điện năng 25,9%; Công nghiệp 19,4%; Lâm nghiệp 17,4%; NN 13,5%; Giao thông vận tải 13,1%; Thương mại và tiêu dùng 7,9%; Rác thải 2,8% [22].

2.1. Sự biến đổi của tự nhiên

Gia tăng nhiệt độ là do HƯNK, song cần nhấn mạnh hơn đến chu kỳ nóng lên của Trái đất do hoạt động nội tại. Nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên và lạnh đi vốn là hiện tượng tự nhiên xảy ra có tính chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của Trái đất. Không phải chỉ bây giờ, lịch sử Trái đất hàng triệu năm đã trải qua nhiều lần nóng lên rồi lạnh đi kéo theo những biến động to lớn trong đời sống sinh vật, làm thay đổi cả diện mạo địa hình lục địa và đại dương.

Tính từ 1,6 triệu năm cho đến nay đã có 5 – 6 chu kỳ biến động lớn. Đó là các thời kỳ băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp và các thời kỳ băng tan kéo theo mực NBD cao. Vào thời kỳ băng hà, nhiệt độ bề mặt Trái đất khô lạnh. Vào thời kỳ băng tan, nhiệt độ bề mặt Trái đất đan xen giữa nóng ẩm và khô hạn. Vào các thời kỳ đó, biên độ dao động của nước biển lên đến hàng chục hàng trăm mét. Mỗi chu kỳ kéo dài hàng vạn, chục vạn năm. Mỗi chu kỳ như vậy còn được chia ra các chu kỳ ngắn hơn với thời gian kéo dài hàng trăm năm đến nghìn năm với biên độ dao động mực nước biển 2 – 3m hoặc hơn [1].

Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm thay đổi cường độ sáng của Mặt trời, sự xuất hiện các điểm đen trên Mặt trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của Trái đất… [24]

Với sự xuất hiện các điểm đen làm cho cường độ tia bức xạ Mặt trời chiếu xuống Trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi, từ đó làm thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái đất.

Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời cũng gây ra sự thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất làm thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái đất. Từ khi tạo thành Mặt trời đến nay (gần 4,5 tỷ năm), cường độ sáng của Mặt trời đã tăng lên hơn 30%. Như vậy, có thể thấy rằng khoảng thời gian khá dài thì sự thay đổi cường độ sáng Mặt trời không ảnh hưởng nhiều đến BĐKH.

Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào bầu khí quyển một lượng lớn sulfur dioxide (SO2) và tro bụi, ảnh hưởng đến KH trong nhiều năm. Các hạt nhỏ (sol khí) được phun ra bởi núi lửa phản chiếu lại bức xạ Mặt trời trở vào không gian, vì vậy, chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt Trái đất.

Sự di chuyển của các dòng hải lưu qua các đại dương có thể gây nên thay đổi cục bộ của KH ở các vĩ độ địa lý, làm cán cân phân phối nhiệt độ giữa đất liền và vùng biển trong khu vực thay đổi. Sự thay đổi khối nhiệt khổng lồ do chuyển dịch các dòng hải lưu lên phía Bắc có thể tạo nên hiện tượng băng tan đột ngột làm KH thay đổi và nồng độ mặn trong nước biển cũng bị ảnh hưởng.

Nhà toán học người Pháp cho rằng sự thay đổi quỹ đạo hình Elip của Trái đất quanh Mặt trời có thể là nguyên nhân làm thay đổi khối lượng băng hà. Vào thời điểm hạ chí và đông chí, xuân phân và thu phân thì góc chiếu của các tia sáng từ Mặt trời đến Trái đất sẽ bị ảnh hưởng do độ lệch trục Trái đất so với mặt phẳng hình elip của quỹ đạo.

2.2. Hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người

Từ khi có sự hiện diện của con người cho đến nay, KH trên Trái đất đã bắt đầu có những thay đổi nhất định. Khởi thủy, các hoạt động của con người như khai thác rừng, mở

rộng diện tích canh tác NN, phát triển chăn nuôi, khai thác khoáng sản, đốt nhiên liệu hóa thạch… đã phát thải ra bầu khí quyển nhiều CO2, CH4 và nhiều chất KNK khác gây nên hiện tượng nghẽn nhiệt trên bầu khí quyển làm Trái đất nóng lên. Theo số liệu công bố của IPCC, giai đoạn 1850 – 2005, nồng độ các chất KNK đã tăng lên rất nhiều: CO2 tăng 30%, CH4 tăng 17%, N2O tăng 15%. Con người cũng đã xả ra nhiều chất CFC vào không khí làm cho lớp khí ozone ở tầng bình lưu bị mỏng đi gây nguy hại cho sinh vật và các HST nhạy cảm. [10] 

Theo đánh giá của IPCC, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành SX năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải và xây dựng đóng góp khoảng 46% vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới khoảng 17%, SXNN khoảng 13%, các ngành SX CFC và HCFC khoảng 21%, còn lại 3% là từ các hoạt động khác. Sự phát thải khí CO2 vào bầu khí quyển của các nhóm nước, các quốc gia cũng có sự khác nhau. Các quốc gia với ngành công nghiệp phát triển từ lâu đời đã phát thải một lượng lớn khí CO2 vào bầu khí quyển, đứng đầu hiện nay là Trung Quốc và Mỹ (chiếm 42,21% tổng lượng phát thải toàn cầu năm 2008).

Qua nhiều cuộc khảo cứu, phân tích, tranh luận kéo dài từ ba thập kỷ cuối của thế kỷ 20 sang đến thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, thế giới đã công nhận sự hiển thị của hiện tượng BĐKH trên quy mô toàn cầu. Các hoạt động SX và sinh hoạt của con người thải ra bầu khí quyển một khối lượng lớn KNK, tăng khoảng 70% trong hơn 30 năm qua (1974 – 2004). Nhiệt độ trung bình năm của Trái đất trong ba thập kỷ qua đã tăng 0,7 – 0,8oC. Trong những năm 1990 – 2010 nhiều kỷ lục về thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán… được ghi nhận. Năm 2010 là năm nóng ẩm đối với nhiều khu vực trên Trái đất kể cả các quốc gia nằm trong vùng hàn đới. 

Các nước phát triển chỉ chiếm 15% dân số thế giới, nhưng lượng phát thải lại chiếm đến 45% toàn cầu. Trong khi đó, các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới mà chỉ phát thải 7%. Các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới nhưng chỉ phát thải có 2%. Vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong Công ước Khung của Liên hợp quốc về BĐKH là: “Các bên phải bảo vệ hệ thống KH vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống BĐKH và những ảnh hưởng có hại của chúng”. BĐKH là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển mà các nước phát triển đã nhận được lợi ích khá nhiều, trong khi các nước đang phát triển không “ăn mặn” mà vẫn “khát nước”. Vì vậy, sự trợ giúp của các nước phát triển cho các nước đang phát triển để khắc phục hậu quả của BĐKH là công bằng. 

Theo Cục Bảo vệ Môi trường, tổng lượng phát thải KNK Việt Nam mỗi năm khoảng triệu tấn, gồm 4 loại: CO2, CH4, NO2, NO và phát thải chủ yếu do hoạt động trong các lĩnh vực: năng lượng, công nghiệp (chiếm 95% khí NO2), giao thông (chiếm 80% khí CO2)… Với đà phát triển như hiện nay, lượng phát thải KNK còn tăng mạnh trong thời gian tới. Phát thải khí CO2 tăng khá nhanh, song vẫn còn ở mức thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực. Năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn CO2; năm 2004, tăng lên 98,6 triệu tấn CO2 (tăng gần 5 lần), bình quân đầu người 1,2 tấn/năm (trung bình của thế giới là 4,5; Singapore 12,4; Malaysia 7,5; Thái Lan 4,2; Trung Quốc 3,8; Inđônêxia 1,7; Philippin 1,0; Myanma 0,2; Lào 0,2). Dự tính đến 2020, tổng lượng phát thải KNK đạt 233,3 triệu tấn CO2 (tăng 93% so với năm 1998). [22]

3. Biểu hiện của biến đổi khí hậu

BĐKH toàn cầu với biểu hiện chính là sự tăng cao nhiệt độ bề mặt Trái đất, NBD, và những hiện tượng KH cực đoan đang gây hại cho nhiều khu vực trên thế giới. Năm 2010, người dân Ireland và Anh phải đón một “Giáng sinh trắng”, Canada lại bất ngờ ấm lên, còn Nga thì có một mùa hè nóng bỏng, Pakistan có thêm nhiều kinh nghiệm với trận lũ lịch sử.

Việt Nam, biểu hiện rõ nhất là các hiện tượng thời tiết cực đoan đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản như bão, lũ lụt ở miền Trung, lốc xoáy và mưa đá ở miền Bắc, đặc biệt ĐBSCL là khu vực dễ bị tổn thương nhất, đang phải đối mặt với vấn đề NBD, xâm nhập mặn, triều cường ngày càng gia tăng. 

Sự nóng lên của nhiệt độ bề mặt Trái Đất hay còn gọi là hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nhiệt độ trung bình ở nhiều nơi đều có xu thế gia tăng.

Lượng mưa thay đổi bất thường, mùa khô ngày càng ít hơn mùa mưa. Ngày bắt đầu mùa mưa, mưa đến trễ hơn nhưng cuối mùa mưa lại có nhiều trận mưa lớn hơn và số trận mưa cũng thay đổi khác thường. 

Mực NBD cao do sự tan băng ở hai đầu cực Trái đất và do sự giãn nở vì nhiệt của khối nước từ đại dương và biển, dẫn tới ngập úng ở những vùng đất thấp.

Các hiện tượng thời tiết dị thường ngày càng rõ hơn và xuất hiện nhiều hơn. Các trận lũ dữ dội hơn, nhiều nơi băng giá dày hơn vào mùa đông, nhiều trận cháy rừng khốc liệt hơn, nhiều vùng khô hạn mở rộng và kéo dài hơn. Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (lốc xoáy, sấm sét…) gia tăng về cường độ, vị trí. 

Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất.

Sự dịch chuyển của các đới KH đang tồn tại đến các vùng khác nhau trên thế giới dẫn đến nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các HST và hoạt động của con người.

Sự thay đổi cường độ hoạt động của các quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác.

Sự thay đổi năng suất sinh học của các HST, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển và địa quyển. 

Sự thay đổi chế độ mưa, dòng chảy và hạn hán, sự biến đổi, gia tăng tần suất và cường độ của bão và ATNĐ, cùng với những hệ quả về KT – XH và môi trường.

4. Tác động của biến đổi khí hậu

BĐKH là một hiện tượng diễn biến trong quá khứ cũng như hiện tại và có thể biến động nhanh hơn trong tương lai. Hiện tượng nóng lên toàn cầu làm băng ở Bắc Cực và Nam Cực cũng như các dải băng ở các dãy núi cao tan nhanh, khiến mực nước biển nhận thêm nhiều nguồn nước nên đang có xu thế dâng cao, cán cân tuần hoàn nước thay đổi, đe dọa toàn bộ HST hiện hữu, đặc biệt là các vùng đất thấp và ven biển có thể bị nước biển nhấn chìm.

Vùng cao, vùng thượng nguồn hoặc trong đê bao khép kín chỉ chịu tác động của BĐKH như mưa bão, lũ lụt, xói lở, hạn hán… là chính, trong khi vùng thấp ven sông chịu ảnh hưởng thủy triều của biển và vùng ven biển có thể chịu cả hai tác động BĐKH và NBD.

BĐKH không chỉ là vấn đề làm biến đổi môi trường sinh thái mà còn là mối đe dọa toàn diện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, tình trạng cung cấp lương thực toàn cầu, vấn đề di dân và đe dọa nền hòa bình, an ninh thế giới. BĐKH là một trong những thách thức lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Chính vì vậy, vấn đề BĐKH đã trở thành chủ đề chính cho các diễn đàn và hội nghị thượng đỉnh toàn cầu và khu vực. Thế giới đã có văn bản pháp lý định hướng cho hành động chung nhằm bảo vệ hệ thống KH Trái Đất. Đáng tiếc là nhiều năm qua, kể từ khi Hội nghị thượng đỉnh về cắt giảm khí thải ở Rio de Janeiro (1982) và Nghị định thư ở Tokyo (), hội nghị thường niên của Liên Hiệp Quốc về BĐKH ở Ba Lan (2013) tình hình không có gì cải thiện ngược lại càng trở nên tồi tệ hơn vì vẫn chưa ngăn chặn được sự can thiệp nguy hiểm của con người vào KH Trái Đất.

BĐKH làm cho bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn trong những năm tới trở nên ác liệt hơn, gây rủi ro lớn cho phát triển KT – XH hoặc xóa đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển, trong đó có những thành quả thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. NN trong tương lai vẫn là giá đỡ cho đất nước đứng vững trước nhiều biến động của BĐKH. “Phi công bất phú và Phi nông bất an” đã nói lên tầm quan trọng của SXNN đối với sự sinh tồn và phát triển của một đất nước. Tuy nhiên, hiện nay dưới sự tác động của BĐKH, ngành NN đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, đe dọa đến an ninh lương thực của thế giới.